Nhà chật, khách tới rải rác mỗi người một giờ, bàn ghế không đủ cho tất cả ngồi cùng lúc — tiệc đứng giải quyết cả ba vấn đề đó.
Chỉ cần một bàn dài sát tường, bày món lên, khách tự lấy. Bài này nói cách bày và cách chọn món.
Món hợp tiệc đứng
Món phải cầm được bằng tay hoặc nĩa. Tiêu chí đầu tiên.
Không cần dao. Khách đứng không cắt được.
Gỏi cuốn. Món tiệc đứng kinh điển.
Chả giò chay cắt đôi. Vừa một miếng.
Bánh mì kẹp nhỏ. Cắt làm bốn.
Đậu hũ chiên xiên que. Dễ cầm.
Xiên rau củ nướng. Đẹp mắt.
Nấm nhồi nướng. Một miếng vừa.
Khoai tây chiên hoặc khoai lang chiên. Ai cũng ăn.
Rau củ que chấm sốt. Mát và nhẹ.
Bánh bao nhỏ. No bụng.
Cơm nắm hoặc xôi nắm. Phần tinh bột.
Trái cây xiên que. Tráng miệng.
Tránh món nước và món dễ rơi. Khách đứng ăn.
Bày bàn
Kê bàn sát tường. Khách đi một chiều.
Đĩa và khăn giấy ở đầu bàn. Lấy trước rồi mới gắp.
Món mặn trước, tráng miệng sau. Theo thứ tự ăn.
Đồ uống để bàn riêng. Tránh ùn tắc.
Món cần nóng đặt gần cuối. Lấy sau cùng, đỡ nguội.
Kẹp gắp riêng cho từng đĩa. Không dùng chung.
Đặt biển tên món. Khách biết mình lấy gì.
Ghi rõ món có hạt. Phòng dị ứng.
Bày đĩa cao thấp xen kẽ. Dùng giá kê cho đẹp.
Chừa khoảng trống giữa các đĩa. Chỗ đặt tay.
Thùng rác gần bàn. Nhưng không quá sát.
Chỗ để đĩa bẩn riêng. Khay hoặc thùng.
Đủ ánh sáng trên bàn. Khách nhìn rõ món.
Đi thử một vòng như khách. Xem có vướng chỗ nào không.
Tính lượng
Tiệc đứng ăn ít hơn tiệc ngồi. Khách vừa ăn vừa nói chuyện.
Tính sáu tới tám miếng mỗi người. Cho tiệc hai tiếng.
Tiệc dài hơn thì tính mười miếng. Cộng thêm.
Nhiều loại món nhỏ hơn ít loại món lớn. Khách thích thử nhiều.
Tám tới mười loại là vừa. Cho hai mươi khách.
Món no phải có ít nhất hai loại. Bánh mì, cơm nắm.
Đồ uống tính hai ly mỗi người. Ít nhất.
Nước lọc luôn phải có. Không chỉ nước ngọt.
Trái cây tính nửa phần mỗi người. Nhiều người bỏ qua tráng miệng.
Chia làm ba đợt tiếp. Không bày hết một lúc.
Đợt đầu bày hai phần ba. Giữ lại một phần.
Ghi lại lượng thực dùng. Lần sau chuẩn hơn.
Dư một chút là bình thường. Khách mang về được.
Thiếu giữa tiệc thì khó xoay. Thà dư.
Tiếp thêm trong buổi
Cử một người trông bàn. Việc quan trọng nhất.
Bổ sung khi đĩa vơi một nửa. Đừng đợi hết.
Đĩa trống trên bàn trông rất tệ. Rút đi ngay.
Gộp hai đĩa vơi thành một. Trông đầy hơn.
Món nóng hâm theo đợt. Đừng hâm hết một lần.
Chiên theo đợt nếu có món chiên. Giòn hơn.
Lau bàn khi có vết đổ. Ngay lập tức.
Thu đĩa bẩn thường xuyên. Đừng để chất đống.
Tiếp nước liên tục. Khách hay khát.
Thêm đá vào thùng. Tan nhanh.
Kiểm khăn giấy. Hết là bất tiện.
Nhắc khách lấy thêm. Nhiều người ngại.
Bày đợt cuối khi tiệc còn nửa giờ. Đủ cho người tới muộn.
Bàn luôn đầy thì tiệc trông sang. Mẹo đơn giản nhất.
Đồ uống
Pha sẵn theo bình lớn. Đỡ rót từng ly.
Nước chanh hoặc nước tắc. Ai cũng uống được.
Trà đá để bình lớn. Rẻ và quen.
Nước ép trái cây. Pha loãng bớt.
Nước lọc để riêng. Nhiều người chỉ uống nước lọc.
Cà phê hoặc trà nóng nếu trời lạnh. Hỏi sữa thực vật.
Ly dùng một lần thì tiện. Nhưng nhiều rác.
Ly thủy tinh thì sang hơn. Phải rửa nhiều.
Bút ghi tên lên ly. Khách khỏi cầm nhầm.
Đá để thùng riêng có kẹp. Không bốc tay.
Thùng đá đặt gần bình nước. Tiện lấy.
Rượu bia thì tùy tiệc. Không bắt buộc.
Có sẵn đồ uống không cồn. Cho người lái xe.
Đồ uống đủ thì khách thoải mái. Đừng tiết kiệm khoản này.
Dọn dẹp
Dọn dần trong buổi. Đỡ dồn cuối.
Đĩa bẩn gom vào khay. Mang xuống bếp từng đợt.
Rửa dần khi có thời gian. Đừng để chất đống.
Thùng rác đổ giữa buổi nếu đầy. Trước khi tràn.
Gom đồ thừa vào hộp. Ngay khi tiệc vãn.
Chia cho khách mang về. Chuẩn bị hộp sẵn.
Cất đồ thừa vào tủ lạnh. Đừng để ngoài.
Lau bàn và sàn sau cùng. Nước đổ dễ trơn.
Trả đồ mượn hoặc thuê. Kiểm số lượng.
Chia việc dọn cho cả nhà. Nhanh hơn nhiều.
Không dọn khi khách còn ngồi. Họ thấy bị đuổi.
Nghỉ một lát rồi mới dọn. Chủ nhà cũng mệt.
Ghi lại món nào hết trước. Lần sau làm nhiều hơn.
Tiệc đứng dọn nhẹ hơn tiệc ngồi. Ưu điểm lớn.
Khách tới rải rác
Tiệc đứng hợp nhất với kiểu khách này. Không phải chờ đủ người.
Ghi giờ mở và giờ đóng trong lời mời. Khách tự chọn lúc tới.
Bày bàn từ trước giờ hẹn. Người tới sớm đã có món.
Giữ lại một phần món cho người tới muộn. Đừng bày hết từ đầu.
Món nguội chịu được thời gian dài. Ưu tiên nhóm này.
Món nóng làm theo đợt nhỏ. Người tới sau vẫn có đồ nóng.
Chủ nhà nên đứng gần cửa. Đón từng lượt khách.
Giới thiệu khách mới với người đang ngồi. Tránh ai đó đứng lẻ.
Chỉ bàn món ngay khi khách vào. Đỡ ngại.
Không bắt khách chờ ăn cùng lượt. Mất ý nghĩa tiệc đứng.
Người về sớm thì tiễn ra cửa. Đừng để họ lặng lẽ đi.
Gói phần cho người tới muộn mang về. Nếu món đã vãn.
Buổi kéo dài ba bốn tiếng là bình thường. Tính đồ uống cho đủ.
Ai tới lúc nào cũng thấy được tiếp. Đó là tiêu chí.